- Xác định phân loại của A. terreus
- Hình thái học
- Xét về mặt vĩ mô
- Kính hiển vi
- Chu kỳ sinh học
- Người giới thiệu
Aspergillus terreus là một loài nấm tạo ra các chất chuyển hóa thứ cấp như patulin, citrinin và gliotoxin, có hại cho con người. Nó được biết đến với khả năng gây khúc xạ với liệu pháp amphotericin B. Nó có thể là một mầm bệnh cơ hội gây ra bệnh aspergillosis phổi xâm lấn ở những bệnh nhân ức chế miễn dịch.
A. terreus cũng được sử dụng để chuyển hóa "lovastatin", một hợp chất được sử dụng trong công nghiệp dược phẩm để điều chỉnh mức cholesterol. Nó cũng tạo ra các chất chuyển hóa thứ cấp có lợi như terrein, một chất ức chế hình thành hắc tố, asperfuranone và cyclosporin A, được sử dụng làm thuốc ức chế miễn dịch.

Thuộc địa Aspergillus terreus trên Rose Bengal Agar. Medmyco tại Wikipedia tiếng Anh, qua Wikimedia Commons
Thậm chí một số chủng còn được sử dụng để sản xuất axit hữu cơ, axit itaconic và axit itatartaric thông qua quá trình lên men.
Xác định phân loại của A. terreus
Chi Aspergillus, thuộc về A. terreus, đã trải qua các nghiên cứu phân loại học rộng rãi dựa trên DNA bộ gen của nó. Nhiều nghiên cứu trong số này đã tập trung vào các nhóm cụ thể (loài, mặt cắt và chi con).
A. terreus thuộc chi Nidulantes của bộ Terrei. Với những tiến bộ trong nghiên cứu sinh học phân tử, người ta đã công nhận rằng có sự biến đổi gen có thể phân biệt các chủng cùng loài bằng các mẫu protein.
Hình thái học
Về mặt hình thái A. terreus là một loại nấm dạng sợi giống như các loài thuộc giống Aspergillus.
Xét về mặt vĩ mô
Về mặt vĩ mô, nấm có thể được đặc trưng trên môi trường nuôi cấy chuyên dụng hoặc trên giá thể nơi nó phát triển. Môi trường nuôi cấy được sử dụng trong phòng thí nghiệm để trồng nấm là môi trường CYA (chiết xuất men và thạch Czapek) và môi trường MEA (thạch chiết xuất mạch nha), cho phép quan sát khuẩn lạc, màu sắc, đường kính và thậm chí cả sự hình thành cấu trúc. sinh sản hoặc kháng thuốc, tùy thuộc vào điều kiện và thời gian ủ bệnh.
A. terreus, trên môi trường CYA, được quan sát thấy như một khuẩn lạc hình tròn (đường kính 30-65 mm) với kết cấu mịn như nhung hoặc lông cừu, phẳng hoặc có rãnh xuyên tâm, với sợi nấm màu trắng.
Màu sắc có thể thay đổi từ nâu quế đến nâu vàng, nhưng khi nhìn ngược đĩa cấy có thể thấy màu vàng, vàng hoặc nâu và đôi khi có sắc tố khuếch tán màu vàng trong môi trường.
Nếu môi trường là MEA, các khuẩn lạc thưa thớt, có màu thịt hoặc màu cam nhạt đến xám cam, hầu như không nhìn thấy sợi nấm màu trắng. Khi nhìn vào mặt sau của đĩa, các khuẩn lạc có màu hơi vàng.
Kính hiển vi
Về mặt vi thể, giống như tất cả các loài thuộc chi Aspergillus, nó có các sợi nấm chuyên biệt được gọi là tế bào mầm, trên đó các tế bào sinh bào tử hình thành bào tử sinh dục hoặc bào tử vô tính của nấm sẽ phát triển.
Conidiophore được hình thành bởi ba cấu trúc phân hóa tốt; túi, vòi và tế bào chân liên kết với phần còn lại của sợi nấm. Các tế bào đồng sinh, được gọi là phialit, sẽ hình thành trên mụn nước, và tùy thuộc vào loài mà các tế bào khác phát triển giữa túi và phialit, được gọi là métulas.
A. terreus hình thành các tế bào đồng bào với các đầu bào tử trong các cột nhỏ gọn, với các túi hình cầu hoặc dưới hình cầu, rộng 12-20 µm. Stipe là hyalin và có thể thay đổi chiều dài từ 100-250 µm.
Nó có các công thức (được gọi là đầu bào tử lưỡng tính) với kích thước từ 5-7 µm x 2-3 µm và phialit 7 µm x 1,5 - 2,5 µm. Bào tử mịn, hình cầu hoặc hình cầu nhỏ hơn so với các loài Aspergillus khác và có thể đo được 2-2,5 µm.

Hình 1. Sơ đồ cấu trúc của một loài Aspergillus terreus conidiophore.
Với những tiến bộ trong sinh học phân tử và kỹ thuật giải trình tự, ngày nay việc xác định các loài nấm được tạo điều kiện thuận lợi bằng cách sử dụng các chỉ thị phân tử cho phép nghiên cứu các chủng của một loài. Hiện tại, mã vạch của nhiều loại nấm là vùng đệm của ADN ribosom.
Chu kỳ sinh học
Có thể xác định được giai đoạn hữu tính và giai đoạn vô tính. Khi một bào tử đạt đến chất nền lý tưởng, một giai đoạn khoảng 20 giờ là cần thiết để sợi nấm phát triển.
Nếu điều kiện thuận lợi, chẳng hạn như thoáng khí và ánh sáng mặt trời tốt, các sợi nấm bắt đầu biệt hóa, làm dày lên một phần của thành tế bào, từ đó các sợi nấm sẽ xuất hiện.
Điều này sẽ phát triển các bào tử bào tử sẽ bị phân tán bởi gió, bắt đầu lại vòng đời của nấm. Nếu điều kiện không thuận lợi cho sự phát triển sinh dưỡng, chẳng hạn như bóng tối kéo dài nhiều giờ, thì giai đoạn hữu tính của nấm có thể phát triển.
Trong giai đoạn hữu tính, tế bào nguyên thủy phát triển làm phát sinh cấu trúc hình cầu gọi là cleistothecia. Bên trong là các asci, nơi các bào tử trứng sẽ phát triển. Đây là những bào tử gặp điều kiện thuận lợi và trên giá thể thích hợp sẽ phát triển thành sợi nấm, bắt đầu lại vòng đời của nấm.
Người giới thiệu
- Samson RA, Visagie CM, Houbraken J., Hong S.-B., Hubka V., Klaassen CHW, Perrone G., Seifert KA, Susca A., Tanney JB, Varga J., Kocsub S., Szigeti G., Yaguchi T., và Frisvad JC. 2014. Phát sinh loài, Nhận dạng và danh pháp của chi Aspergillus. Nghiên cứu về Thần học 78: 141-173.
- Nó bao gồm Mª L. 2000. Phân loại và xác định các loài liên quan đến bệnh aspergillosis bệnh viện. Rev Iberoam Micol 2000; 17: S79-S84.
- Hee-Soo P., Sang-Cheol J., Kap-Hoon H., Seung-Beom H., và Jae-Hyuk Y. 2017. Chương Ba. Tính đa dạng, ứng dụng và sinh học tổng hợp của nấm Aspergillus quan trọng trong công nghiệp. Những tiến bộ trong vi sinh 100: 161-201.
- Rodrigues AC 2016. Chương 6. Chuyển hóa thứ cấp và các chất chuyển hóa kháng khuẩn của Aspergillus. Trong: Những phát triển mới và trong tương lai trong công nghệ sinh học vi sinh vật và kỹ thuật sinh học. Tr 81-90.
- Samson RA, Visagie CM, Houbraken S., Hong B., Hubka V., Klaassen CHW, Perrone G., Seifert KA, Susca A., Tanney JB, Verga J., Kocsubé S., Szigeti G., Yaguchi T. và Frisvad JC 2014. Phát sinh loài, xác định và danh pháp của chi Aspergillus. Các nghiên cứu về Mycology 78: 141-173.
- Arunmonzhi BS 2009. Phức hợp Aspergillus terreus. Y học Mycology 47: (Bổ sung 1), S42-S46.
- Narasimhan B. và Madhivathani A. 2010. Sự biến đổi di truyền của Aspergillus terreus từ nho khô sử dụng RAPD-PCR. Những tiến bộ trong Khoa học Sinh học và Công nghệ Sinh học 1: 345-353 ABB.
- Bayram Ö., Braus GH, Fischer R. và Rodriguez-Romero J. 2010. Đánh giá Spotlight về hệ thống cảm quang Aspergillus nidulans. Di truyền nấm và Sinh học 47: 900-908.
