- Tiểu sử
- Nghiên cứu và nghiên cứu ban đầu
- Dự án Manhattan
- Ăn năn
- Đóng góp và dự án
- Thời bình
- Buồng bong bóng
- Điều tra Kennedy
- Biết bên trong của hình chóp
- Giả thuyết Álvarez
- Tử vong
- Người giới thiệu
Luis Walter Álvarez (1911-1988) là một nhà vật lý thực nghiệm người Mỹ gốc Tây Ban Nha, người đã phát triển kiến thức của mình trong nhiều lĩnh vực khoa học. Ông tham gia vào Dự án Manhattan, chịu trách nhiệm tạo ra những quả bom năm 1945 ném xuống Nhật Bản đánh dấu sự kết thúc của Thế chiến II.
Sự công nhận chuyên môn quan trọng nhất của ông là khi ông giành được giải Nobel Vật lý năm 1968 nhờ đóng góp vào buồng bong bóng để phát hiện các hạt hạ nguyên tử. Ông cũng là thành viên của nhiều viện hàn lâm khoa học nổi tiếng quốc tế.

Walter Alvarez. Qua Wikimedia Commons
Ông đã làm việc trong các dự án đa dạng như điều tra vụ ám sát tổng thống Hoa Kỳ, John F. Kennedy, phân tích các căn phòng bí mật của các kim tự tháp ở Ai Cập và nguyên nhân dẫn đến sự tuyệt chủng của loài khủng long.
Tiểu sử
Luis Walter Álvarez sinh ngày 13/6/1911 tại San Francisco, Hoa Kỳ. Cha mẹ của ông là Walter Clement và Harriet Smyth.
Ông thuộc một gia đình gồm các nhà khoa học và nhà nghiên cứu lỗi lạc. Ông nội của anh là Luis F. Álvarez đến Hoa Kỳ từ Asturias, Tây Ban Nha và được biết đến với phương pháp chẩn đoán bệnh phong hoàng điểm.
Cùng với cha mình, Walter Clement đã phát triển danh tiếng rất tốt với tư cách là một bác sĩ, người viết sách và nhà khoa học thực nghiệm. Trên thực tế, một hội chứng tâm thần có tính chất rối loạn thần kinh được đặt theo tên của ông.
Nghiên cứu và nghiên cứu ban đầu
Trái ngược với những gì có thể mong đợi, Luis Walter Álvarez không chọn ngành y như cha và ông của mình. Năm 1928, ông bắt đầu học Vật lý tại Đại học Chicago, từ đó ông tốt nghiệp năm 1932.
Lúc đó ông làm việc trong phòng thí nghiệm đoạt giải Nobel Vật lý Arthur Compton (1892-1962) giúp ông nghiên cứu về tia vũ trụ, mà không biết rằng bốn mươi năm sau, kiến thức này sẽ giúp ích rất nhiều cho ông trong một cuộc điều tra quan trọng khác.

Luis Walter Álvarez và Arthur Compton Qua Wikimedia Commons
Sau khi học thạc sĩ năm 1934 và tiến sĩ năm 1936, ông chuyển đến phòng thí nghiệm bức xạ tại Đại học California, nơi ông tiếp tục thực hiện các thí nghiệm của mình.
Ngay từ khi bắt đầu sự nghiệp, Álvarez đã tạo ra những đổi mới. Năm 1937, ông đã tạo ra một thiết bị để quan sát trực tiếp quá trình thu nhận các electron K, liên kết với vật lý hạt nhân. Năm 1939, cùng với đồng nghiệp Félix Bloch (1905-1983), ông đã thực hiện phép đo đầu tiên về trạng thái từ tính của neutron.
Năm sau, ông bắt đầu làm việc tại Viện Công nghệ Massachusetts, nơi ông thiết kế một hệ thống radar để các phi công dân sự và quân sự có thể hạ cánh trong điều kiện ít hoặc không có tầm nhìn.
Năm 1943, ông làm việc trong Phòng thí nghiệm Luyện kim của Đại học Chicago và cùng năm đó, ông được gọi là thành viên của đội chịu trách nhiệm về bom hạt nhân kết thúc Thế chiến II.
Dự án Manhattan
Năm 1943, ông được mời tham gia bí mật vào Dự án Manhattan, góp phần xây dựng cơ chế kích nổ cho quả bom uranium ném xuống Hiroshima và quả bom plutonium thả xuống Nagasaki, Nhật Bản.
Álvarez đã có mặt trong buổi ra mắt cả hai thiết bị, trên một chiếc máy bay đang bay sau máy bay ném bom vài km.
Vào thời điểm đó, công việc của Álvarez bao gồm quan sát khoa học, đo lực của sóng xung kích để tính toán năng lượng giải phóng.
Ăn năn
Vào ngày phóng một trong những quả bom, không biết chắc chắn là quả bom nào, Álvarez đã viết một lá thư cho cậu con trai bốn tuổi của mình, Walter Álvarez, trong đó anh bày tỏ sự tiếc thương về những cái chết do các vụ nổ gây ra:
Đóng góp và dự án
Thời bình
Vào cuối Thế chiến thứ hai, ông bắt đầu giảng dạy các lớp toàn thời gian về vật lý thực nghiệm tại Đại học California, nơi sau đó vào năm 1978, ông được bổ nhiệm làm Giáo sư Danh dự.
Từ năm 1946 đến năm 1947, ông nghiên cứu chế tạo máy gia tốc hạt tuyến tính proton đầu tiên và sẽ không còn sử dụng kiến thức của mình cho việc phát triển vũ khí chiến tranh.
Buồng bong bóng
Năm 1953, ông gặp nhà khoa học Donald Glasser (1926-2013), người sau đó đã phát minh ra một buồng bong bóng sử dụng ête ở nhiệt độ rất thấp để theo dõi các hạt hạ nguyên tử vô hình.
Năm 1956, Álvarez đã đóng góp quan trọng vào buồng bong bóng bằng cách thay thế hydro lỏng cho ete, điều này mang lại nhiệt độ thậm chí còn thấp hơn cho thí nghiệm.
Sự sửa đổi của Alvarez cho phép phát hiện ra một bộ sưu tập các hạt hạ nguyên tử mới tiết lộ thông tin cơ bản về thành phần của nguyên tử.
Buồng bong bóng đã mang về cho Glasser giải Nobel Vật lý năm 1960, và tám năm sau đóng góp của Álvarez cũng được ghi nhận khi ông giành được giải Nobel Vật lý năm 1968.
Điều tra Kennedy
Một trong những đóng góp gây tò mò của Luis Walter Álvarez cho thế giới là việc ông tham gia vào cuộc điều tra vụ ám sát Tổng thống Hoa Kỳ John Fitzgerald Kennedy, xảy ra vào năm 1963.
Nhà khoa học đã phân tích các hình ảnh của vụ tấn công và đóng góp quan điểm của mình về thời điểm chính xác mà các phát súng được bắn, trong số các khía cạnh khác của vụ án.
Biết bên trong của hình chóp
Năm 1967, Álvarez bắt đầu quan tâm đến việc khám phá ra khả năng tồn tại của những căn phòng bí mật trong kim tự tháp Khafre ở Ai Cập. Cho đến lúc đó, người ta chỉ biết đến cái được tìm thấy trong kim tự tháp Seneferu và Cheops.
Nhà khoa học đã loại trừ việc sử dụng tia X do độ dày của các bức tường và thay vào đó sử dụng tia vũ trụ, một kỹ thuật mà ông đã nghiên cứu hàng chục năm trước đó với nhà khoa học Arthur Compton.
Mặc dù ông không tìm thấy những căn phòng bí mật mà mình đang tìm kiếm, nhưng nghiên cứu của ông đã cho phép các nhà khảo cổ học biết thêm nhiều điều về khối lượng của những công trình cổ đại này.
Giả thuyết Álvarez
Nghiên cứu cuối cùng của ông được thực hiện vào năm 1981 với sự đồng hành của con trai ông là nhà địa chất Walter Álvarez và các nhà hóa học Frank Asaro và Helen Michel. Nhóm nghiên cứu này đề xuất rằng sự rơi của một tiểu hành tinh hoặc thiên thạch là nguyên nhân dẫn đến sự tuyệt chủng của loài khủng long.
Thông thường sự kiện này được mô tả là một sự kiện xảy ra dần dần do sự thay đổi khí hậu, nhưng "Giả thuyết Alvarez" như đề xuất đã được rửa tội, đã đặt câu hỏi cho bất kỳ giả thuyết nào khác.
Các nhà khoa học đã lấy mẫu Trái đất có niên đại 65 triệu năm và trong đó iridi hiện diện nhiều hơn 160 lần so với bình thường. Nồng độ của nguyên tố này thường cao hơn trong các thiên thạch chứ không phải trong đất của hành tinh, do đó có thể coi rằng một vật thể ngoài Trái đất đã giết chết loài khủng long.
Tuy nhiên, vào thời điểm điều tra, họ vẫn chưa phát hiện ra một miệng núi lửa tương ứng với sự kiện đại hồng thủy được mô tả bởi Álvarez và nhóm của ông, theo tính toán của họ đáng lẽ phải dài ít nhất 100 km và sâu vài phần.
Năm 1986, một nhóm các nhà khoa học đã tìm cách xác định rằng miệng núi lửa Chicxulub nằm ở bán đảo Yucatan, Mexico, dài 180 km và sâu 20 km. Một loại miệng núi lửa sẽ hỗ trợ Giả thuyết Alvarez.

Luis Walter Álvarez và con trai Walter Álvarez. Nguồn: britannica.com
Tử vong
Luis Walter Álvarez qua đời vào ngày 1 tháng 9 năm 1988 tại Berkeley, California, sau một cuộc đời dài với những phát minh và đóng góp khoa học xuất sắc đã thay đổi cách chúng ta nhìn thế giới theo nhiều cách.
Người giới thiệu
- Tổ chức Nobel. (1968). Luis Alvarez. Lấy từ nobelprize.org
- Peter Trower. (2009). Lus Walter Álvarez: 1911-1988. Lấy từ nasonline.org
- Guillermo García. (2013). Los Álvarez, một câu chuyện khoa học có nguồn gốc từ Asturian. Lấy từ Agenciainc.es
- National Inventors Hall of Fame. Luis Walter Álvarez. (2019). Được lấy từ invent.org
- David Warmflash. (2016). Luis Walter Álvarez: Khám phá bí mật về nguyên tử và sự sống trên trái đất.
